25/12/11

Sáng tạo ảnh nghệ thuật với khẩu độ

Sáng tạo ảnh nghệ thuật với khẩu độ


Thuật ngữ khẩu độ (Aperture) dùng để chỉ độ mở của ống kính để cho ánh sáng đi đến cảm biến. Tác dụng của khẩu độ trong máy ảnh là điều tiết lượng ánh sáng đi vào máy ảnh; và  ảnh hưởng đến độ sâu trường ảnh (DOF): khẩu độ càng lớn, trường ảnh càng mỏng và ngược lại

Độ lớn của khẩu độ được điều khiển bởi các lá thép chồng so le với nhau trong ống kính, giữa các lá thép này mở ra một đường tròn đồng tâm với các thấu kính. Hoạt động đóng, mở của khẩu độ tương tự như sự điều tiết của mắt người. Khẩu độ chính là kích thước của đường tròn mở ra trong ống kính để ánh sáng đi vào. Kích thước càng lớn thì ánh sáng vô càng nhiều, và ngược lại
Khi bạn nhấn nút chụp trên máy ảnh số, một lỗ nhỏ trên ống kính sẽ cho phép ánh sáng vào bên trong cảm biến: khẩu độ chính là kích thước của cửa sáng đó. Giá trị khẩu độ lớn có nghĩa là kích thước lỗ sáng càng nhỏ và ngược lại.
Độ mở của ống kính còn được xác định bởi độ dài của tiêu cự.
Người ta đo khẩu độ bằng đại lượng gọi là f-stop. Đơn giản thì f-stop là tỷ lệ giữa tiêu cự của ống kính và đường kính cửa sáng. Ví dụ, một ống kính 50mm, với độ mở có đường kính là 12,5mm, sẽ có khẩu độ là 50/12.5 = 4, và được gọi là f4. 

Trị số khẩu độ được sắp xếp theo chuỗi lớn dần (thường gặp là: 1; 1,4; 2; 2,8; 4; 5,6; 8; 11; 16; 22; 32..., với trị số 5,6 và 8 được gọi là độ mở trung bình). Trị số càng lớn tức là kích thước của cửa sáng càng đóng nhỏ. Ngược lại, khẩu độ càng to thì độ nét sâu càng nông,. Và cửa sáng càng khép nhỏ (22, 32...) thì độ nét sâu càng lớn.
Trên một dãy số, các trị số liền kề nhau chênh lệch nhau một khẩu (f-stop). Khẩu độ từ 2 sang 2.8 là giảm một khẩu (hay còn gọi là đóng một khẩu), trong khi từ 2 sang 1.4 gọi là tăng một khẩu. Khi tăng hay giảm một khẩu, cường độ ánh sáng cũng tăng gấp đôi hay giảm phân nửa.

Khẩu độ f4 chuyển qua f5.6 gọi là giảm một khẩu, khẩu độ f11 sang f8 gọi là tăng một khẩu.

Lưu ý: Người mới làm quen với nhiếp ảnh thường lầm lẫn khẩu độ lớn tức là có trị số lớn, trong khi thực tế là khẩu độ 2.8 lớn hơn rất nhiều so với khẩu độ 22.

Độ sâu trường ảnh (Depth of Field - DOF)
DOF chính là phần hiển thị sắc nét trong bức ảnh, còn được hiểu là vùng ảnh rõ. Độ sâu trường ảnh lớn thì các hình ảnh ở xa hay gần đều rõ nét, thường được dùng để chụp phong cảnh. Độ sâu trường ảnh mỏng có nghĩa là chỉ một phần nào đó trong ảnh rõ nét, và hầu hết phần còn lại không rõ nét.
Nếu bạn thay đổi giá trị của khẩu độ thì độ sâu trường ảnh sẽ đổi theo. Khẩu độ mở càng lớn (trị số càng nhỏ) thì độ nét nông, và ngược lại. Cách tốt nhất để hiểu được độ sâu trường ảnh là bạn nên thử nghiệm ngay vơi máy ảnh của mình. Sau khi hiểu được hiệu ứng do khẩu độ mang lại, bạn sẽ thấy được giá trị của việc kiểm soát khẩu độ.

 Ảnh bên trái có khẩu độ f2.8, nên hậu cảnh bị xóa mờ, ảnh bên phải có khẩu độ f22 nên hậu cảnh rõ hơn.

Vài ví dụ về ứng dụng của khẩu độ với một số thể loại ảnh
- Khi chụp phong cảnh, hầu hết các nhà nhiếp ảnh đều chọn khẩu độ nhỏ (trị số lớn) nhằm đảm bảo ảnh có độ nét càng sâu càng tốt.
- Khi chụp chân dung, nhà nhiếp ảnh lại muốn tập trung hơn vào người mẫu của mình, muốn người mẫu tách hẳn ra khỏi hậu cảnh nên chỉ cần nét ở người mẫu (không cần nét ở hậu cảnh), nên khẩu độ lớn (trị số nhỏ) sẽ được chọn.
- Tương tự như thể loại phong cảnh, khi chụp ảnh macro cũng cần sử dụng khẩu độ đóng nhỏ để làm nổi bật chủ thể và tập trung ánh mắt của người xem vào chủ thể chụp.
Độ sâu trường ảnh phụ thuộc nhiều vào loại máy ảnh (kích thước cảm biến), tiêu cự ống kính đang sử dụng, khẩu độ, khoảng cách lấy nét (là khoảng cách từ mặt phẳng cần lấy nét đến ống kính). Độ mở khẩu và khoảng cách lấy nét chính là hai yếu tố quyết định độ sâu trường ảnh, tuy nhiên khả năng xóa phông một phần cũng tùy thuộc vào ống kính.
 
 Bảng liên quan giữa tiêu cự khoảng cách lấy nét và DOF

23/12/11

Khẩu độ (Aperture)

Khẩu độ (Aperture)

Khẩu độ là một trong những yếu tố quan trọng của máy ảnh. Vì thế, giá trị của nó luôn được in lên mặt trước của sản phẩm như thông số tiêu cự và khả năng zoom (hình 14)
Khẩu độ tựa như cấu trúc con ngươi cảu ta. Khi phải nhìn từ vùng bong râm sang vùng  có nhiều ành sáng. Ví dụ: ở  nàh bước ra đường dưới nắng ban trưa,…thì mắt thường hay “nhíu lại” để điều tiết phù hợp hơn trong điều kiện dư ánh sáng. Ngược lại, khi phải làm veic65 trong nới thiếu sáng, như trong nhà kho chẳn hạng thì mắt tự động “mở căng” ra để nhìn thấy rõ mọi thứ.
Máy ảnh là một thiết bị quang học nên cũng có một bộ phận dùng để hạn chế ánh sáng khi mội trường bên ngoài dư ánh sáng hoặc mở lớn ra để gia tăng việc thu nhận ánh sáng, khi đối tượng chụp ảnh trong tình trạng thiếu sáng.
Hình 17 dưới đây minh hoạ vị trí của bộ phận điều chỉnh khẩu độ.
Khẩu độ (Aperture)
Về mặt cấu trúc, khẩu độ được thiết kế như một cánh cửa tròn đặt của hệ thấu kính. Cửa này được đóng lại hay mở ra bởi nhiều miếng lam kim loại có dạng tam giác (diaphram), nằm theo chu vi tròn của khuôn cửa (hình 18). Khi di chuyển từ ngoài vào tâm của vòng tròn, những miếng lam này sẽ tạo nên những lỗ tròn có kích thước khác nhau.
Vậy độ đóng mở này cẩn phải điều chỉnh như thế nào?
Khẩu độ không hoạt động độc lập, mà nó phải có kết hợp chặc chẽ với độ dài tiêu cự để có được hiệu ứng ánh sáng tốt nhất. Người ta tìm được thang giá trị được lập theo tỷ số giữa tiêu cự và đường kính của cửa đóng mở, và khẩu độ theo giá trị đó.
Khẩu độ với cường độ ánh sáng tương ứng.
Ví dụ: Tiêu cự của ống kính là 50mm, ta muốn mở một lỗ trên của các đường kính 25 mm, thì gía trị của khẩu độ được tính toán: 50/ 25 = 2, ta có khẩu độ f/2.
Chỉ số này càng nhỏ thì khẩu độ càng lớn. Chỉ số càng lớn thì khẩu độ càng nhỏ.
Nhà sản xuất thường cung cấp một số cặp số khẩu độ. Với máy ảnh Sony điển hình, khẩu độ 1:2.8 - 4.8 được in kèm với tiêu cự 5.8 – 17.4. Nghĩa là, máy ảnh có thể mở khẩu độ tối đa là 2.8 ở vị trí tiêu cự wide 5.8 mm, và thu nhỏ đến mức tối thiểu là 4.8 ở vị trí tiêu cự tele là 17.4 mm.
Trong hình 18, cho ta thấy giá trị một số khẩu độ điển hình. Tương ứng với nó là độ ánh sáng tạo ra trên ảnh chụp. Từ trái sang phải khẩu độ được sắp xếp từ lớn nhất và giảm dần đi, và kèm theo đó là kết quả những bức ảnh có tình trạng dư sáng (sáng trắng) giảm dần cho đến thiếu sáng (không thấy gì luôn!).
Tác dụng của khẩu độ:
Khẩu độ càng lớn, ánh sáng sẽ vào càng nhiều. Ngược lại, khẩu độ càng nhỏ, ánh sáng sẽ vào càng ít. Do đó, trong trường hợp môi trường dư sáng như chụp ảnh ngoài trời nắng tốt thì ta nên chọn khẩu độ nhỏ tương ứng, ví dụ: f/5.6, 8, 11, 16. Và nếu môi trường không đủ ánh sáng (bóng râm, mát, trong nhà có mái che) thì cần mở lớn khẩu độ.
Song song với việc gia giảm cường độ ánh sáng, khẩu độ còn có một hệ quả kèm theo là độ nét sâu của trường ảnh, mà chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp ở phần tiếp theo.
Ngày nay, với công nghệ hiện đại, các máy ảnh không chuyên (digital compact), đã có chế độ đo sáng tự động, các chế độ chụp cài sẵn (chân dung, phong cảnh, trời đêm, thể thao,…). Những chương trình này đã được lập trình sẵn và dựa vào hệ thống đo sáng, máy sẽ lựa chọn khẩu độ phù hợp với khung cảnh tại thời điểm chụp.
Việc tìm hiểu ở đây sẽ giúp chúng ta có thêm những lựa chọn khi muốn chụp ảnh ở chế độ Manual trên những máy có khả năng chính khẩu độ, tiêu cự bằng tay.